Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

Tiểu đoàn 16 anh hùng và khởi thêm nguồn bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”

45 năm sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân 1968, Tiểu đoàn 16 – Long An và cá nhân liệt sỹ Nguyễn Văn Sáu vinh hạnh được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang quần chúng (AHLLVTND) (lễ đón nhận được tổ chức vào ngày 2/8/2013). Tiểu đoàn 16 đã dự trận đánh vào phi trường Tân Sơn Nhất (ngày 31/1/1968) đi vào huyền thoại và là nguồn cảm hứng để thi sĩ - Anh hùng liệt sĩ Lê Anh Xuân sáng tác bài thơ bạt tử "Dáng Đứng Việt Nam". Nhân Tiểu đoàn 16 được tặng danh hiệu AHLLVTND, Báo Giao thông điện tử xin giới thiệu một số thành tích của Tiểu đoàn.

Các cựu binh Tiểu đoàn 16 viếng, chụp ảnh lưu niệm tại Đài tưởng vọng liệt sĩ truyền thống của Tiểu đoàn 16

Chiến công tiếp nối chiến công

Tiểu đoàn D16 - Phân khu 2 - Long An nguyên là D5, E24, Sư đoàn 304B thuộc Quân khu 3 được thành lập ngày 15/9/1965 (hồ hết cán bộ chiến sỹ quê Nam Định và Thanh Hóa). Từ tháng 9/1965 đến tháng 1/1967, là thời kỳ D5 huấn luyện kỹ thuật chống chọi, sau đó là huấn luyện để Nam tiến.

Ngày 10/2/1967, D5 nhận lệnh vào Nam đương đầu, D5 đã vượt qua vô vàn gian khổ, ác liệt trên đường Trường Sơn với phiên hiệu là Đoàn 209A chiến trận đảm bảo tốt quân số.

Tháng 7/1967 đến tháng 11/1967, đơn vị được Bộ tư lệnh Miền giao cho Quân khu 7 với phiên hiệu là D16 Tây Ninh. Tại mặt trận này, Tiểu đoàn 16 dưới sự chỉ huy của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tây Ninh đã đánh 15 trận lớn nhỏ; diệt và làm bị thương 500 tên địch; thu nhiều khí giới, quân trang. Trong đó, có nhiều trận đánh Tiểu đoàn chỉ quân số rất ít nhưng đã giành chiến thắng lớn như: trận đánh Mỹ đổ quân ở rừng Nhum (Bến Cầu), diệt đồn Tam Hiệp ở xã Ninh Điền (Châu Thành), diệt đồn Mộc Bài…

Ông Trần Kim Thắng, chủ toạ Hội đồng hương tỉnh Hà Nam tại TP HCM viếng liệt sĩ đồng hương

Đặc biệt, trong trận chiến ở Mộc Bài, địch chốt giữ trên Quốc lộ 1 gồm 1 đại đội cảnh sát cùng với bọn thương chính nhằm ngăn chặn và quản lý tuyến nhà cầu chiến lược từ miền Đông về miền Tây, từ cứ cách mạng ở Campuchia xuống Sài Gòn. Nhận nhiệm vụ của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tây Ninh, D16 hạ quyết tâm tiêu diệt đồn địch. Đúng nửa đêm, 3 Đại đội chia làm 3 mũi tấn công đánh chiếm lô cốt, tiêu diệt 150 tên địch. Trận đánh diễn ra chớp nhoáng và kết thúc chỉ trong 2 giờ, phía ta hy sinh 4 chiến sỹ. Trận chiến gây tiếng vang rất lớn tại chiến trường Tây Ninh, làm quân dịch hoang mang, lo âu; song song, động viên ý thức đương đầu của quân ta.

Từ tháng 12/1967 đến tháng 3/1971, nhận lệnh của Bộ Chỉ huy và Quân ủy Miền, Tiểu đoàn 16 tiến quân về Long An với phiên hiệu D16 Long An, thuộc Trung đoàn 31, Phân khu 2, chuẩn bị bước vào chiến dịch Tổng công kích Mậu Thân 1968.

Từ tháng 7/1967 đến cuối năm 1971, trên mặt trận Tây Ninh, Sài Gòn, Long An, D16 đã đánh hơn 250 trận lớn nhỏ, diệt và làm bị thương 3.500 tên địch (trong đó có 450 lính Mỹ), diệt gọn và đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn, 5 đại đội địch (trong đó có 2 tiểu đoàn và 2 đại đội quân Mỹ). Bắn rơi 15 phi cơ, phá hủy 55 xe quân sự (có 35 xe tăng và xe bọc thép); 22 khẩu pháo; bắn chìm 26 tàu xuồng tranh đấu, thu 360 súng các loại, 54 máy thông báo và nhiều dụng cụ chiến tranh của Mỹ - Ngụy...

Trận đánh làm nên “Dáng đứng Việt Nam”

Thời gian chuẩn bị chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968 lúc này rất khẩn trương, bí mật. D16 chỉ có thời gian

Dáng Đứng Việt Nam

Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt

Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng

Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn

Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng mãnh

Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tấn công

Anh tên gì hỡi Anh yêu quý

Anh vẫn đứng im lặng như bức thành đồng

Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ

Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong

Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc khởi hành

Chỉ để lại cái dáng-đứng-Việt-Nam tạc vào thế kỷ:

Anh là chiến sỹ phóng thích quân.

Tên Anh đã thành tên giang san

Ôi anh phóng thích quân!

Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt

Tổ quốc bay lên minh mông mùa xuân

(3-1968)

Nguồn: Thơ Lê Anh Xuân, NXB Giáo Dục, 1981

Khoảng 1 tháng vừa tìm hiểu thực địa chiến trường đồng bằng, vừa huấn luyện, sắp xếp lực lượng, củng cố để chuẩn bị nhận nhiệm vụ quan yếu.

Ngày 29/1/1968 (tức ngày 28 Tết Nguyên đán), D16 được lệnh xuống chiến trận. Sau 1 đêm tiến quân đầy gian khổ vượt sông Vàm Cỏ Đông, D16 với 100% quân số đã hội tụ đúng thời kì tại đình Mỹ Hạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. 16 giờ ngày 30/1, D16 nhận lệnh tấn công địch của Bộ Chỉ huy Miền, được xếp đặt vào đội hình Trung đoàn 31 của Phân khu 2 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất từ góc Tây Nam, tiếp đó đánh chiếm Bộ Tổng tư vấn Ngụy rồi phát triển sâu vào nội đô và hội quân tại dinh Độc Lập.

Theo kế hoạch tác chiến, đúng giờ G, pháo binh ĐKB của Bộ Tư lệnh Miền sẽ bắn vào sân bay là tiếng súng phát lệnh tấn công cho các cánh quân đánh vào Sài Gòn. Nhưng, giờ G trôi qua, trường bay Tân Sơn Nhất vẫn lặng yên.

Đợi đến 2 giờ sáng ngày 31/1/1968, D16 khai hỏa loạt cối 82mm bắn vào trường bay; song song, mũi xung kích tiến đánh vào trong. Trận đánh chiếm lô cốt đầu cầu góc Tây Nam sân bay rất cam go. Những trái B40 vẫn chưa thể dặp tắt hỏa lực địch. Quân nhân ta một số bị thương vong, xung kích 1 phải điều tổ đánh bộc phá lên. Đồng chí Đồ C2 ôm bộc phá dũng mãnh xông thẳng vào lỗ châu mai có khẩu đại liên đang bắn. Bộc phá nổ, đồng chí Đồ dũng mãnh hy sinh, lô cốt đầu cầu bị đánh sập, các chiến sĩ C1, C2 nhanh chong tiến vào trong.

C1 theo đường tày bên phải đánh, chiếm được 2 nhà để tàu bay. Sáng 31/1/1968, địch củng cố lực lượng và bắt đầu phản kích. C1 bám sát từng xác xe tăng địch để chống chọi, đẩy lùi nhiều đợt phản kích, tiêu diệt hơn 150 tên địch, bắn cháy 5 xe tăng. Nhưng đến trưa thì C1 hết đạn, hy sinh gần hết. Chính trị viên phó Nguyễn Văn Mẹo đã hy sinh trong tư thế tựa người vào xác chiếc M41, tay vẫn kẹp chặt khẩu súng AK chĩa họng súng về phía kẻ thù khiến địch hoảng hốt giơ tay xin hàng. (Hình tượng đó chính là nguồn cảm hứng để thi sĩ Lê Anh Xuân sáng tác bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”).

C2 đánh vòng theo đường tày bên trái tiến sát khu gia binh, đánh đẩy lui bọn địch vào sâu. C2 đẩy lùi hàng chục đợt phản kích của địch, diệt 170 tên, bắn hủy 4 xe tăng và xe bọc thép M113. Đến trưa, quân ta hết đạn, lại bị địch phản kích dữ dội, nên trên ra lệnh mở đường máu để thoát ra khu hãng dệt Vinatexco.

Địch huy động trực thăng bắn xối xả xuống đội hình quân ta trên đất trống làm quân ta thương vong khá nhiều. Chúng còn cho một đoàn xe tăng từ Gò Vấp chạy xuống cắt ngang lộ 1, bắn 12,7mm và pháo tự hành dọc theo lộ. Trung đội đại liên ta đánh trả quyết liệt, bắn rơi 2 trực thăng và 1 tàu bay khu trục. Đại đội 3 bộ binh và các lực lượng bên ngoài trường bay Tân Sơn Nhất của D16 lúc này chỉ còn chưa đầy 100 quân vẫn bám trụ đánh địch suốt ngày 31/1/1968, xoá sổ thêm 3 xe tăng M41, bắn rơi 1 trực thăng, diệt hàng trăm tên Mỹ - Ngụy.

Trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất của D16 là một trận đánh với tinh thần quyết chiến quyết thắng, sẵn sàng tranh đấu hy sinh, gan góc kiên cường, còn 1 người cũng đánh đến cùng. 380 cán bộ chiến sỹ D16 đã vĩnh viễn nằm lại, quyết tử cho giang sơn quyết sinh. Trong đó, có 1 ngôi mộ tập thể gồm 181 cán bộ chiến sỹ, sau này nhờ có người lính cứu hỏa của chế độ Sài Gòn chỉ giúp nên mới được quy tập về Nghĩa trang liệt sỹ TP HCM.

Với những cống hiến và hy sinh to lớn, D16 được quốc gia tặng thưởng: 320 huy hiệu Dũng sỹ quyết thắng; 150 huy hiệu Dũng sỹ diệt Mỹ... 45 Huân chương Chiến công cho tập thể và cá nhân chủ nghĩa và nhiều phần thưởng khác. Mới đây, Tiểu đoàn 16 và liệt sỹ Nguyễn Văn Sáu (nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn) vừa được chủ toạ nước tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang quần chúng. #./.

Mai Văn Huyên


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét