Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2013

Cơ cực xóm kẹo kéo giữa Sài Gòn hoa lệ

Vào những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, bước vào nghề kẹo kéo không ai không biết và nể phục bốn cái tên: Sơn “xiếc”, Địa, Hải, Long, không chỉ vì họ là những người thủ xướng nên nghề kẹo kéo ở TP.HCM mà còn bởi cái tâm làm nghề của họ. Không ít kẻ đầu trộm đuôi cướp về đầu quân bán kẹo kéo cho họ đã trở thành người lương thiện và có cuộc sống chân chính.

Thời thế thay đổi, bộ tứ ấy giờ đây cũng rệu rã. Kẻ đổi nghề, người bôn ba, người còn lại cũng rơi vào cảnh ngộ “bỏ không được mà không bỏ cũng không xong.”

Ông “bầu” sa cơ

Chân dung ông “bầu” kẹo kéo

Xóm kẹo kéo nằm lọt thỏm trong con hẻm lầm lội 604/15E đường Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, quận 7, giữa dự án Sunrise City (đường Nguyễn Hữu Thọ) và khu dân cư Trung Sơn với những tòa nhà cao tầng, biệt thự… cạnh rạch Ông Lớn. Cảnh hai bên càng hiện đại, sạch sẽ và chắc chắn bao nhiêu càng làm trổi cái nhếch nhác, trợ thì của xóm kẹo kéo nói riêng và người dân nơi đây nói chung.

Nhà của ông “bầu” kẹo kéo Trần Vương Long là căn lều khá nhất trong ba căn lều của xóm kẹo kéo, dựng theo kiểu nhà sàn, bốn phía đóng tôn, rộng chừng 10m2. Đồ vật đáng giá nhất trong căn nhà có lẽ là chiếc tivi đời cũ với cái đầu đĩa bạc thếch và trầy trụa. Một tủ áo quần, một chiếc bàn xếp chất đầy sách vở của cô con gái út và bày la liệt kẹo cao su. Tôi tự hỏi không biết họ xoay trở như thế nào để vợ chồng con cái có thể ngả mình được vào buổi đêm.

Mười mấy năm theo nghề kẹo kéo, ông Trần Vương Long đã nhận và đào tạo không biết bao nhiêu chàng trai nghèo đam mê ca hát nhưng không có điều kiện học hành. Người thì đến với ông vài tháng học nghề rồi đây riêng, người thì làm một hai năm để kiếm chút vốn, người thì gắn bó lâu năm như Điền, Thiện, Bi với đủ chuyện vui buồn, sướng khổ. Chừng ấy con người là chừng ấy cảnh ngộ, chừng ấy mảnh đời mà không bút mực nào có thể tả hết.

Khác với tưởng tượng của tôi, “bầu” Long có khuân mặt hiền hậu, ánh mắt lúc nào cũng khắc khổ như ẩn chứa quá nhiều thăng trầm của cuộc sống mà một con người đã lăn lộn, trải đời, từ thượng vàng đến hạ cám.

Cách chuyện trò và suy nghĩ của người đàn ông 48 tuổi này gợi cho người đối diện cảm giác ông là người đầy bổn phận và nhiều nỗi lo, bởi ông không chỉ bận lòng cho cuộc sống của gia đình mình mà còn lo nghĩ cho cuộc sống của những người cần lao nghèo.

Hình như, nghề kẹo kéo vận vào ông như một cái nghiệp chứ nếu bản thân ông được giữ một bổn phận nào đó có nhẽ đời sống của người lao động sẽ được chăm nom hơn.

Trong câu chuyện với tôi, ông luôn kiêu hãnh khoe về truyền thống cách mạng của gia đình để rồi sau đó, ông luôn tự trách mình đã không đạt được thành công như bác mẹ kỳ vọng mà phải lăn lộn mưu sinh ở đất Sài Gòn.

Mỗi khi về lại Cần Thơ thăm người mẹ đã ở cái tuổi gần đất xa trời, ông chẳng bao giờ dám kể với mẹ rằng ông sống ở đô thị và kiếm cơm bằng nghề kẹo kéo. “Đây là nghề chân chính, tôi không tủi hổ nhưng tôi sợ mẹ tôi lo âu và thêm bệnh”, ông chia sẻ.

Trần Vương Long đặt chân lên TP.HCM từ năm 25 tuổi và bôn ba khắp nơi làm đủ nghề để kiếm sống, từ bốc xếp, làm hồ, mua bán cây giống. Cuộc sống khấm khá dần, ông mở trại làm cây giống ở tỉnh Bình Thuận, niềm vui chưa được bao lâu thì trại cây giải tán, ông lại về TP.HCM cùng vợ buôn bán rau củ quả tại bến Chương Dương.

Năm 2000, đại lộ Đông Tây khởi công, căn nhà của vợ chồng ông ở bến Chương Dương thuộc diện giải tỏa. Cầm số tiền bồi hoàn trên tay, ông lúng túng không biết làm gì. Nghe người bạn giới thiệu, ông sang quận 7 mua một mảnh đất ven sông và dựng tạm vài phòng trọ cho dân lao động thuê để kiếm đồng ra đồng vào trang trải phí tổn sinh hoạt và chuyện học hành cho con.

Cũng chính cuộc sống nơi dãy trọ này đã đẩy đưa ông gặp anh Hải kẹo kéo. Thấy ông có tình cảnh khốn cùng, phải gồng gánh nuôi con ăn học, anh Hải đã không ngại ngần truyền nghề và còn nhường luôn Điền, môn đệ ruột của anh lại cho ông.

Học được một năm thì ông mạnh dạn vét số tiền đền bù còn lại sắm sanh đồ nghề và bắt đầu tiếp thụ môn đồ. Mỗi bộ đồ nghề gồm một chiếc xe máy cũ, tuy cà tàng nhưng máy móc phải ngon lành, rồi thùng, loa, đĩa, âm-pli chỉnh âm cùng một đôi thứ lặt vặt khác. Tưởng đơn giản vậy nhưng mỗi bộ đồ nghề cũng ngốn mất của ông từ 15 đến 20 triệu đồng.

Hỏi sao lúc ấy ông lại chọn nghề kẹo kéo? Ông cười buồn bảo, khi nhà bị giải tỏa, mất thế buôn bán, ông cảm thấy lúng túng, không biết làm gì để kiếm sống. Thấy nghề kẹo kéo hay hay, nghĩ rằng sẽ kiếm sống đắp đổi qua ngày được nên quyết định làm chứ ông không nuôi mộng làm giàu, kiếm chác từ việc bóc lột sức lao động của người khác.

Tùy sức và khả năng của từng người mà có bữa bán nhiều bán ít, ông không bao giờ bắt ép hay ra quy định mỗi bữa phải được bao lăm. “Trung bình mỗi bữa, tôi có khoảng 500 ngàn đồng từ việc đi bán của các môn sinh, lo chi phí ăn uống cho gia đình và các đồ đệ cũng gần hết phân nửa, rồi tiền điện, nước mỗi tháng, thuốc men cho anh em mỗi khi ốm đau, chuyện học hành của con cái. Những tháng mưa, anh em không đi bán được, mình cũng phải lo cơm nước đàng hoàng chớ đâu bỏ anh em được”, ông bày tỏ.

Bám trụ với nghề

“Bếp ăn” ngoài trời, những căn lều lụp xụp nơi xóm kẹo

Mười mấy năm theo nghề kẹo kéo, ông đã nhận và đào tạo không biết bao nhiêu chàng trai nghèo say mê ca hát nhưng không có điều kiện học hành. Người thì đến với ông vài tháng học nghề rồi đây riêng, người thì làm một hai năm để kiếm chút vốn, người thì gắn bó lâu năm như Điền, Thiện, Bi với đủ chuyện vui buồn, sướng khổ.

Chừng ấy con người là chừng ấy cảnh ngộ, chừng ấy mảnh đời mà không bút mực nào có thể trình bày hết. Từng mảnh đời khốn cùng ấy cộng sinh trong một môi trường sống buồn vui lộn lạo, mà nếu không có tình thương, lòng bao dong và định hướng của ông Long, hẳn họ đã chẳng thể vượt qua được. Không ít lần biết môn sinh qua mặt mình với đủ trò, đổ không đủ xăng, lấy thêm kẹo bên ngoài để bán, ông đều nhắm mắt cho qua, bởi theo ông, “nó cũng có cái khó của nó”.

Cá biệt có cậu bé quê ở Phú Yên theo ông từ năm 14 tuổi, làm nghề được 2 năm thì “cuỗm” luôn cái xe của ông đem về quê. Nó bị công an bắt ngay sau đó. Ông tiền vay bạc hỏi, cùng Điền ra tận Phú Yên chuộc xe và bảo lãnh cho nó về với gia đình. Biết nó giờ đây đã ổn định cuộc sống, nghề nghiệp đàng hoàng, ông không khỏi mừng trong lòng.

Chính cách làm nghề tận tâm, yêu “môn đệ” như con cái trong nhà nên có khá nhiều “lính” của các bầu kẹo kéo khác biết tiếng, xin “gia nhập” đội quân kẹo kéo của ông nhưng ông đều từ chối, bởi theo ông: “Làm thế là cướp mất chén cơm của người ta”. Đó cũng chính là lý do khiến Điền đã đôi lần nghĩ đến việc ra làm riêng cũng đành gác lại bởi: “Tình thầy trò mười mấy năm gắn bó, cực khổ nặng nhọc có nhau, giờ chú đang gặp khó khăn, mình ra riêng coi không được”. Mỗi khi nói về ông, Điền, Thiện, Bi đều dành cho ông niềm kính trọng rất đặc biệt, hơn cả tình cha con.

Rồi những Nghĩa, Trường… cùng nhiều cái tên mà ông không thể nào nhớ hết, dù ở TP.HCM hay ở tỉnh, còn hoặc không còn trụ với nghề kẹo kéo, thi thoảng vẫn gọi điện hỏi thăm sức khỏe ông. Người có điều kiện hơn thì dịp Tết lại về thăm. Những điều tưởng dường như vặt vãnh ấy đã cổ vũ và yên ủi ông, giúp ông bám nghề đến bữa nay.

Tôi rời xóm kẹo kéo lúc xế trưa, trời lại lất phất mưa. Điền đã lủi đi đâu mất. Sát nhà ông Long, một chiếc ghe máy chở đầy dừa và chuối đang từ từ cập bến. Tiếng người í ới gọi nhau ra giở trái cây lên bờ. Tôi những tưởng mình đang ở một miền quê nào đó. Nhưng đấy không còn là miền quê êm đềm như người ta vẫn nghĩ mà đầy nặng về nỗi lo miếng cơm manh áo.

Ông bảo có những lúc thấy nản quá muốn “giải nghệ” để tìm một việc khác, nhưng mỗi khi nghĩ đến đó ông lại thấy không yên lòng. Ba anh em Điền, Thiện, Bi sẽ ra sao? Những lúc ông quẫn trí, họ cũng đã sẵn lòng trợ giúp, giờ làm thế chẳng khác nào đẩy người ta vào đường cùng. “Một thân một mình thì không sao, còn vợ con chúng nó nữa. Thôi thì, ngày nào anh em tụi nó còn muốn làm nghề thì tôi vẫn làm”.

Theo nghề từng ấy năm, căn nhà nhỏ của ông ở quận 4 để dành cho thuê lấy tiền nuôi con ăn học cũng bay theo những lần chuộc xe kẹo kéo. Đó cũng là điều khiến ông buồn tủi và cắn rứt nhất. Hỏi hiện nay ông ước mơ điều gì nhất? Ông cười buồn bảo có đến ba ước mơ. Một là mong nhà nước có chính sách gì đó tương trợ người lao động nghèo, đặc biệt là những người buôn gánh bán bưng để họ có thể ổn định cuộc sống. Hai là con cái học hành tới nơi tới chốn, có cuộc sống đỡ vất vả hơn ông. Ba là mảnh đất nơi ông ở không còn thuộc diện quy hoạch treo nữa để có thể dựng cái nhà đàng hoàng hơn cho mấy anh em ở.

Tạm kết

Kế bên lều của ông Long là hai chiếc lều của vợ chồng Thiện, Bi với đứa con lên hai. Hai căn lều này cũng được dựng theo kiểu nhà sàn nhưng bốn phía che bằng bạt nhựa, nên trong lều lúc nào cũng lờ nhờ tối. Lều trống huơ trống hoác, chẳng có gì ngoài mấy bộ quần áo.

Bếp nước, rổ rá và chén dĩa đều để ở ngoài trời. Trong 3 đệ tử của ông thì chỉ độc nhất vô nhị có Điền là chưa có gia đình. Tôi nghĩ không phải như Điền vẫn tự ti “ai thèm thương em chị ơi”, mà bởi cái cảnh nghèo ấy đã khiến Điền ít nhiều ngại nghĩ đến chuyện vợ con.

Tôi rời xóm kẹo kéo lúc xế trưa, trời lại phơ phất mưa. Điền đã lủi đi đâu mất. Sát nhà ông Long, một chiếc ghe máy chở đầy dừa và chuối đang từ từ cập bến. Tiếng người í ới gọi nhau ra giở trái cây lên bờ. Tôi những tưởng mình đang ở một miền quê nào đó. Nhưng đấy không còn là miền quê êm đềm như người ta vẫn nghĩ mà đầy nặng về nỗi lo miếng cơm manh áo.

Viết đến đây, tôi cứ nuôi trong lòng mình tia hy vọng, một ngày nào đó, những con người lao khổ, phải bôn ba nơi này có được một mái nhà vững chãi, một công việc chỉ phụ thuộc vào bản thân họ để con cái họ được học hành đến nơi đến chốn và có được cuộc sống đỡ vất vả hơn cuộc sống của bố mẹ nó giờ. Liệu hy vọng ấy có xa xăm quá chăng?

Theo Dòng Đời


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét